Emmaus

LM Nguyễn Thế Thuấn

Sách Ezra 2

LM Nguyễn Thế Thuấn
Sách Ezra

Cựu Ước

Tân Ước

Chương 2
Song song
Xem song song vớiSách và chương lấy theo bản đang đọc.
Bản dịch máy
Tiếng Việt
LM Nguyễn Thế ThuấnBản dịch của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn, CSsRĐang đọc
Русский
English
Français
中文(繁體)
日本語
한국어
עברית
Ἑλληνική
Español
Português (Portugal)
Tagalog
Deutsch
Hiển thị
Cỡ chữ
Giãn dòng
Độ rộng
Phông chữ
Dịch sang

Danh sách những người hồi hương1Và đây là những người trong hạt đã từ chốn Lưu đày hồi hương - những người Nabukôđôsor vua Babel đã bắt đi đày qua Babel - và họ đã trở về Yêrusalem và Yuđa, ai về thành nấy. 2Họ đã đến với Zôrôbabel, Yôsua, Nêhêmya, Sơrayah, Rơelyah, Rakhamami, Marrđôkê, Bilshan, Mispar, Bigvai, Rơkhum, Baanah. Danh sách những người thuộc dân Israel: 3Con cái của Parơosh: hai ngàn một trăm bảy mươi hai; 4con cái của Shơphatyah: ba trăm bảy mươi hai; 5con cái của Arakh: bảy trăm bảy mươi lăm; 6con cái của Pakhat-Moab, (tức là) con cái của Yôsua và Yôab: hai ngàn tám trăm mười hai; 7con cái của Êlam: một ngàn hai trăm năm mươi bốn; 8con cái của Zattu: chín trăm bốn mươi lăm; 9con cái của Zakkai: bảy trăm sáu mươi; 10con cái của Bani: sáu trăm bốn mươi hai; 11con cái của Bebai: sáu trăm hai mươi ba; 12con cái của Azgađ: một ngàn hai trăm hai mươi hai; 13con cái của Ađôniqam: sáu trăm sáu mươi mươi sáu; 14con cái của Bigvai: hai ngàn lẻ năm mươi sáu; 15con cái của Ađin: bốn trăm năm mươi bốn; 16con cái của Ater thuộc Yơkhizqiyah: chín mươi tám; 17con cái của Bêxai: ba trăm hai mươi ba; 18con cái của Yôrah: một trăm mười hai; 19con cái của Khashum: hai trăm hai mươi ba; 20con cái của Gibbar: chín mươi lăm; 21con cái của Bêlem: một trăm hai mươi ba; 22người Nơtôphah: năm mươi sáu; 23người Anatôt: một trăm hai mươi tám; 24con cái Azmavet: bốn mươi hai; 25con cái Qiriat-Yơraim, Kơphirah và Bơêrôt: bảy trăm bốn mươi ba; 26con cái Ramah và Ghêba: sáu trăm hai mươi mốt; 27người Mikmas: một trăm hai mươi hai; 28người Bêthel và Hai: hai trăm hai mươi ba; 29con cái Nơbô: năm mươi hai; 30con cái Magbish: một trăm năm mươi sáu; 31con cái Êlam Akher: một ngàn hai trăm năm mươi bốn; 32con cái Kharim: ba trăm hai mươi; 33con cái Lôđ, Khađiđ, và Ônô; bảy trăm hai mươi lăm; 34con cái Yêrikhô; ba trăm bốn mươi lăm; 35con cái Sơanah: ba ngàn sáu trăm ba mươi. 36Các tư tế: con cái Yơđayah, thuộc nhà Yơsua: chín trăm bảy mươi ba; 37con cái Immer: một ngàn lẻ năm mươi hai; 38con cái Pashkhur: một ngàn hai trăm bốn mươi bảy; 39con cái Kharim: một ngàn lẻ mười bảy. 40Các Lêvit: con cái của yôsua, tức là Qađmiel, Hôđavyah: bảy mươi bốn. 41Các ca sĩ: con cái Asaph: một trăm hai mươi tám. 42Các người giữ cửa: con cái Shallum, con cái Ater, con cái Talmôn, con cái Aqqub, con cái Khatitâ, con cái Shôbai, tổng cộng: một trăm ba mươi chín. 43Các người hiến thân: con cái Xikha, con cái Khasupha, con cái Tablaôt, 44con cái Qêron, con cái Siaha, con cái Phađôn, 45con cái Lơbanah, con cái Khagabah, con cái Aqqub, 46con cái Khagab, con cái Shalmai, con cái Khanan, 47con cái Giđđel, con cái Gakhar, con cái Rơayah, 48con cái Rơxin, con cái Nơqôđa, con cái Gazzam, 49con cái Uzza, con cái Pasêakh, con cái Bêsai, 50con cái Asnah, con cái Mơunim, con cái Nơphisim, 51con cái Baqbuq, con cái Khaqupha, con cái Kharkhur, 52con cái Baslut, con cái Mơkhiđa, con cái Kharsah, 53con cái Barqôs, con cái Sisơra, con cái Tamakh, 54con cái Nơxiakh, con cái Khatipha. 55Con cái những nô lệ của Salômon: con cái Sôtai, con cái Hassôphêret, con cái Pơruđa, 56con cái Yaalah, con cái Ðarqôn, con cái Giđđel, 57con cái Shơphatyah, con cái Khattil, con cái Pokêret-ha-Xơbim, con cái Ami. 58Tổng cộng những người "hiến thân" và con cái những nô lệ của Salômon là ba trăm chín mươi hai (người). 59Và đây là những người hồi hương từ Tel-Mêlakh, Tel-Kharsha, Kơrub, Ađđan, Immer, nhưng không thể khai gia tộc và dòng giống họ, (cho biết) có thuộc Israel hay không. 60Con cái Ðơlayah, con cái Tôbiya, con cái Nơqôđa: sáu trăm năm mươi hai. 61Thuộc hàng tư tế: con cái Khobaiyah, con cái Haqôs, con cái Barzillai, - người đã cưới vợ trong các con gái của Barzillai, người Galaađ, nên đã sang tên họ, 62các người này đã tra tầm sách gia phả của họ nhưng không gặp thấy (gì) nên người ta đã cất chức tư tế của họ. 63Và quan trấn bảo họ không được ăn của cực thánh, cho đến khi nào một tư tế chỗi dậy thỉnh Urim và Tummim. 64Tất cả đại hội cộng chung là: bốn mươi hai ngàn, ba trăm sáu mươi người, 65không kể tớ trai tớ gái của họ, có đến bảy ngàn ba trăm ba mươi bảy người; và hai trăm ca công nam nữ. 66Ngựa của họ: bảy trăm ba mươi sáu (con), la của họ: hai trăm bốn mươi lăm (con), 67lạc đà của họ: bốn trăm ba mươi lăm (con), lừa của họ: sáu ngàn bảy trăm hai mươi (con). 68Một số trưởng tộc khi về đến Nhà Yavê ở Yêrusalem, đã dâng của cúng lòng thành vào Nhà Thiên Chúa, để tái lập Nhà tại chỗ cũ. 69Tùy theo sức họ, họ đã dâng cúng cho quỹ công tác sáu mươi mốt ngàn quan tiền vàng, và năm ngàn cân bạc, và một trăm bộ y phục tư tế. 70Các tư tế và Lêvit, cùng một phần dân chúng đã lập cư ở Yêrusalem, còn các ca sĩ, giữ cửa, những người hiến thân thì lập cư trong các thành của họ. Và toàn thể Israel đã lập cư trong các thành của họ.

Trợ lý Emmaus